Tin tức
Đóng

Giới thiệu Ngành Khoa học Hàng hải của Trường Đại học Nha Trang

Ngày đăng: 03-04-2018 / Đăng bởi: Nguyễn Phú Đông
Với hơn 3.260 km bờ biển – Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong việc phát triển vận tải biển và các ngành dịch vụ liên quan đến biển. Từ các cảng biển Việt Nam có thể thông qua eo biển Malacca để đi đến Ấn Độ Dương, Trung Đông, Châu Âu, Châu Phi, qua eo biển Ba Si có thể đi vào Thái Bình Dương đến các cảng của Nhật Bản, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ…

I.  MỞ ĐẦU

            Theo dự đoán của các chuyên gia sẽ có 2/3 số lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của thế giới phải đi qua vùng biển Đông trong 3-10 năm tới [4]. Nhu cầu vận chuyển hàng hóa đóng container trong khu vực Châu Á có thể tăng lên đáng kể. Biển Đông cũng sẽ thu hút số lượng lớn các nhà kinh doanh và khách du lịch di chuyển bằng tàu biển. Đó là cơ hội rất lớn để Việt Nam phát triển vận tải biển đem lại nguồn thu đáng kể để phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

            Theo Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 của Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” và Quyết định 1601/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, mục tiêu đến năm 2020 kinh tế vận tải biển đứng vị trí thứ hai trong năm ngành kinh tế biển, với tầm nhìn vươn lên hàng thứ nhất sau năm 2030, lĩnh vực kinh tế biển đóng góp 55-60% GDP cả nước.

            Để thực hiện mục tiêu mang tính chiến lược đưa nước ta trở thành một quốc gia biển hùng mạnh, ngành vận tải biển đang đứng trước những thách thức to lớn về nguồn nhân lực, đó là làm thế nào giáo dục - đào tạo  được nguồn nhân lực không những có khả năng đáp ứng các việc làm của sỹ quan và thuyền viên trên tàu như điều khiển tàu biển và vận hành máy tàu mà còn có khả năng tham gia các công việc về hàng hải trên bờ như: Chính quyền cảng; quản lý khai thác cảng biển; quản lý khai thác đội tàu; dịch vụ hàng hải; bảo hiểm, giám định hàng hải hoặc các cơ sở nghiên cứu về khoa học hàng hải...

II. NỘI DUNG

1. Bức tranh đào tạo nhân lực cho ngành hàng hải ở Thế giới và Việt Nam

Để bảo vệ an toàn cho con người và môi trường biển, Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) đã thông qua rất nhiều công ước, đưa ra các quy chuẩn thống nhất cho tất cả hoạt động vận tải biển trên toàn thế giới. Trong các công ước mà IMO công bố có Công ước quốc tế về tiêu chuẩn đào tạo, chứng nhận và trực ca cho thuyền viên (International Convention on Standards of Training, Certification and Watchkeeping for Seafarers - STCW, sau đây gọi tắt là Công ước). IMO lần đầu tiên thông qua STCW năm 1978, Công ước có hiệu lực vào tháng 4 năm 1984. Chính phủ Việt Nam đã phê chuẩn Công ước và trở thành quốc gia thành viên của Công ước từ ngày 18/3/1991, việc đào tạo sỹ quan và thuyền viên phải tuân thủ theo tiêu chuẩn của Công ước này [4].

Trong bức tranh khá ảm đạm hiện nay của ngành hàng hải, nổi lên những nét khắc họa bất thường về sự thiếu hụt nguồn nhân lực chuyên nghiệp chất lượng cao. Các công ty xuất khẩu thuyền viên đang gặp phải những khó khăn trong việc tuyển chọn đội ngũ sỹ quan, thuyền viên giỏi về chuyên môn tinh thông về ngoại ngữ. Theo bảng đánh giá chất lượng thuyền viên một số quốc gia của Trung tâm nghiên cứu thuyền viên thế giới (Seafarers International Research Center) thì số thuyền viên Việt Nam xuất khẩu là hết sức khiêm tốn so với các quốc gia trong khu vực do khả năng ngoại ngữ là yếu (chỉ gần bằng 10% so với thuyền viên Philippine) [7].

Ngoài ra,  nhân lực về quản lý, khai thác, dịch vụ… hay các công việc ở trên bờ cho ngành hàng hải được dự đoán không những thiếu về số lượng mà còn bất cập trong việc cập nhật kiến thức chuyên môn.

Xuất khẩu lao động thuyền viên là cơ hội để giải quyết việc làm cho thanh niên, tăng thu nhập cho các gia đình nghèo, đặc biệt là vùng ven biển miền Trung, Đông và Tây Nam Bộ. Mặt khác, để đưa vận tải biển có thu nhập vào hàng thứ hai của kinh tế biển năm 2020 và hàng thứ nhất vào năm 2030 [3], thì ngoài nguồn thu từ cước vận tải và dịch vụ, còn phải tăng số lượng thuyền viên xuất khẩu để tăng nguồn thu nhập của ngành Vận tải biển để tăng GDP. Theo dự báo của Viện Nghiên cứu Phát triển TP. Hồ Chí Minh [5], nhu cầu thuyền viên đến năm 2020 cho đội tàu trong nước khoảng 33.000 và cho xuất khẩu khoảng 33.000 người; nhu cầu thuyền viên đến năm 2030 tăng gấp đôi, là: 132.000 người.

Một thực tế đáng lưu ý: Thuyền viên ra trường nhưng không hoặc chỉ chọn nghề đi tàu trong thời gian ngắn thì số lượng cần đào tạo phải cao hơn khoảng 30 - 40% [4], đây chính là đội ngũ cần được trang bị mở rộng kiến thức, kỹ năng để có thể đáp ứng các vị trí việc làm về hàng hải trên bờ.

2. Lịch sử hình thành ngành Khoa học hàng hải (KHHH) của Trường ĐH Nha Trang

Ngành khoa học Hàng hải ra đời bởi sự cộng tác của Viện Khoa học và Công nghệ khai thác thủy sản và Khoa Kỹ thuật Giao thông, với hai chuyên ngành là Điều khiển tàu biểnVận hành máy tàu. Nội dung của chương trình tại thời điểm đó chưa đề cập đến lĩnh vực quản lý, dịch vụ hàng hải trên bờ, một lĩnh vực tạo nên chỉnh thể cho ngành Khoa học hàng hải.

Trước thực trạng trên, lãnh đạo Khoa Kỹ thuật giao thông đã đề xuất với Trường cho xây dựng lại chương trình cho phù hợp hơn với yêu cầu thực tế. Ngày 05/01/2015 Hiệu Trưởng Trường Đại học Nha Trang đã ký quyết định thành lập Hội đồng xây dựng lại ngành KHHH trình độ đại học với các thành viên có sự liên kết của 03 đơn vị tham gia giảng dạy là Khoa Kỹ thuật Giao thông, Viện KH & CN khai thác thủy sản, Khoa Kinh tế và đặc biệt có sự tham gia của đại diện Cảng vụ Nha Trang. Hội đồng định hướng là xác định lại mục tiêu đào tạo phù hợp với yêu cầu thực tế, xác định lại các vị trí công việc mà sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể tiếp cận với chuyên môn của mình được đào tạo, trong đó hết sức lưu ý đến mảng quản lý, dịch vụ hàng hải trên bờ.

Với định hướng như vậy, Hội đồng đã cử 03 đoàn đi tìm hiểu thực tế về cơ hội vị trí việc làm, các kiến thức và kỹ năng cần thiết. Các địa chỉ khảo sát gồm: Cảng và Cảng Vụ Nha Trang, Công ty Bảo hiểm hàng hải, Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải Nam Trung Bộ, Cảng Sài Gòn và các công ty Vận tải biển; Công ty cổ phần đầu tư, xây dựng và Nạo vét đường thủy; Đăng kiểm Na Uy-Việt Nam và Trường Đại học Giao thông vận tải HCM.

Hội đồng xây dựng lại chương trình ngành KHHH đã thống nhất sửa đổi về mục tiêu đào tạo, kiến thức và kỹ năng từ đó điều chỉnh các học phần cho phù hợp[2].

3. Giới thiệu ngành Khoa học hàng hải hiện nay của Trường ĐH Nha Trang

3.1. Giới thiệu

Chương trình ngành Khoa học hàng hải của Trường Đại học Nha Trang tích hợp những kiến thức chuyên môn chính về: Vận hành tàu biển (điều khiển tàu biển, vận hành máy tàu), Quản lý và dịch vụ hàng hải, nhằm tạo điều kiện cho người học sau khi ra trường có thể đáp ứng các công việc hàng hải cả trên bờ và đi biển:

(1) Quản lý nhà nước: Cảng vụ hàng hải, trục vớt cứu hộ, cơ quan tìm kiếm cứu nạn và an toàn hàng hải…

(2) Doanh nghiệp:

2.1. Văn phòng các công ty vận tải biển;

2.2. Dịch vụ hàng hải: Dịch vụ giao nhận, đại lý tàu biển, cung ứng tàu biển; Giám định, bảo hiểm hàng hải;

2.3. Khai thác cảng biển. 

(3) Vận hành tàu vận tải biển, tàu công vụ;

(4) Đào tạo và nghiên cứu trong lĩnh vực Khoa học hàng hải.

3.2. So sánh với ngành KHHH với một số trường


3.3. Doanh nghiệp và các cơ sở thực hành, thực tập

3.4. Việc làm của kỹ sư KHHH khóa đầu tiên (K55)

* Có 14/17 Kỹ sư có việc làm (chiếm 82%), trong đó 11/17 làm đúng nghề (chiếm 65%)

3.5. Một số vấn đề cần lưu ý và kế hoạch phát triển ngành KHHH

Chương trình ngành KHHH được sự đồng thuận cao của đội ngũ giảng viên và các cơ quan hữu quan, tạo sự phấn khởi cho người học và gia đình họ.

Tuy vậy, còn một số vấn đề cần quan tâm và giải quyết như:

(1)  Sự nhận biết của xã hội về ngành này còn rất hạn chế, qua nhiều nỗ lực tư vấn Tuyển sinh, số SV khóa 59 là 21 em (K58:10, K57: 39; K56: 20; K55: 24);

(2) Điều kiện cấp một số chứng chỉ về Hàng hải:

- Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn theo các chức danh Vận hành tàu biển: Thủy thủ và Sỹ quan boong; Thợ máy và Sỹ quan máy

- Chứng chỉ Giám định viên; Đăng kiểm viên, Huấn luyện nghiệp vụ…

Vì vậy, để phát triển ngành KHHH, Khoa và Trường đang xúc tiến:

(1)  Quảng bá ngành theo các kênh hữu hiệu: Mạng xã hội, truyền thông;

(2)  Triển khai đề án Liên kết doanh nghiệp để nâng cao chất lượng thực hành, thực tập;

(3)  Điều chỉnh chương trình, bổ sung nội dung về Vận tải đa phương thứcQuản trị Logistics để phù hợp với thị trường lao động, tăng sức hút cho ngành;

(4)  Liên kết với Cục Hàng hải, Trường Đại học Hàng hải và Trường Đại học Giao thông vận tải Tp.HCM để bồi dưỡng giảng viên; cấp Chứng chỉ, Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn các lĩnh vực hoạt động hàng hải cho sinh viên.

III. KẾT LUẬN

Chiến lược của quốc gia về phát triển ngành Vận tải biển đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 phải được kèm theo chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Không còn con đường nào khác, một quốc gia biển hùng mạnh phải có ngành Vận tải biển phát triển với đội ngũ thuyền viên giỏi, nhiều kinh nghiệm song hành với phát triển đội ngũ quản lý, khai thác và dịch vụ hàng hải trên bờ tương xứng. Vì vậy, hành động để phát triển ngành KHHH của Trường Đại học Nha Trang là công việc hết sức bức bách và vô cùng cần thiết trong bối cảnh hiện nay.           

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá X), 2007. Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 của Hội nghị lần thứ tư về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”. Hà Nội.

2. Kết luận của Hội đồng xây dựng lại ngành KHHH ngày 23/4/2015. Trường Đại học Nha Trang.

3. Ngành vận tải biển Việt Nam – Cơ hội và thách thức.Trung tâm nghiên cứu biển đảo (tổng hợp). Đại học Quốc gia Hà Nội.

4. Phòng Tổng hợp, văn phòng Bộ Tư pháp. Một số vấn đề cơ bản của Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020.  http://moj.gov.vn/ct/tintuc/lists/thongtinkhac/view_detail.aspx?ItemID=4208.

5. TS Cao Ngọc Thân. Phát triển vận tải biển Việt Nam đến năm 2020 và định hướng 2030. Viện nghiên cứu phát triển TP.HCM.

6. Văn phòng Chính phủ. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 1601/QĐ-TTg ngày 15/10/2009 phê duyệt quy hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam đến năm 2020 và định hướng 2030. Hà Nội.

7. Makoto Washizu. Analysis of world future demand/supply of seafares& potential countermeasures. Seminar on the Problem of the Global Shortage of Seafarers and the role of the Shipping Industry through CSR activities, 11th May 2010. Japan International Transport Institute (JITI).

Cong ty cong nghe Nguyen Thanh