Lê Quý Đôn, tự là Doãn Hậu, hiệu là Quế Đường, tên lúc nhỏ là Lê Danh Phương, sinh ra trong gia đình khoa bảng tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam (nay là xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên).
Từ nhỏ, Lê Quý Đôn đã được gọi là "thần đồng", nổi tiếng thông minh, có trí nhớ tuyệt vời lại ham học hỏi; năm 5 tuổi đã có thể đọc nhiều bài thơ trong Kinh Thi. Năm 12 tuổi, Lê Quý Đôn đã thông thạo kinh điển Nho học; năm 17 tuổi, đỗ đầu kỳ thi Hương; năm 24 tuổi, đỗ đầu kỳ thi Hội; năm 26 tuổi, đỗ đầu thi Đình.
Sau khi đỗ Bảng nhãn, từ năm 1752 Lê Quý Đôn bắt đầu bước vào sự nghiệp quan trường và giữ nhiều chức vụ quan trọng của Triều Lê - Trịnh. Dù ở cương vị nào, Ông cũng thể hiện là một vị quan tài năng, mẫn cán, thanh liêm, luôn gần gũi Nhân dân, luôn muốn cải thiện và đem lại cuộc sống ấm no hơn cho người dân bằng những hành động thiết thực.
Lê Quý Đôn là người yêu nước, thương dân, nhà bác học lớn, một bậc đại khoa, đại trí, đại tài, có nhiều đóng góp quan trọng trên các lĩnh vực tư tưởng, triết học, văn hóa, giáo dục, khoa học… và hoạt động thực tiễn. Với học vấn uyên thâm, khối lượng trước tác đồ sộ và tầm nhìn vượt trước thời đại, Ông đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tiến trình lịch sử dân tộc.
Cả cuộc đời học hành và làm quan, Lê Quý Đôn luôn thể hiện sâu sắc lòng yêu nước, thương dân và ý thức trách nhiệm đối với vận mệnh quốc gia, dân tộc. Với ông, việc học tập, nghiên cứu hay làm quan đều không nhằm mưu cầu danh lợi cá nhân mà trước hết để góp phần xây dựng đất nước, chăm lo đời sống nhân dân và vì sự hưng thịnh lâu dài của quốc gia. Ông đặc biệt quan tâm đến phát triển kinh tế, giáo dục, quản lý xã hội, bảo vệ chủ quyền quốc gia và luôn nhấn mạnh trách nhiệm của người làm quan phải gần dân, hiểu dân, chăm lo cho cuộc sống của Nhân dân. Tinh thần "dĩ công vi thượng", lấy lợi ích của đất nước và Nhân dân làm mục tiêu phụng sự đã trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong cuộc đời và sự nghiệp của Ông.
Lê Quý Đôn còn là một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam thế kỷ XVIII. Về triết học, Lê Quý Đôn có những đóng góp quan trọng trong việc lý giải thế giới và quy luật vận động của tự nhiên, xã hội.
Về chính trị - xã hội, Lê Quý Đôn luôn khẳng định Đại Việt là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, có lịch sử lâu đời và nền văn hiến đặc sắc. Ông đề cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc, đề cao vai trò của Nhân dân, coi "dân là gốc của nước", nhấn mạnh trách nhiệm của người cầm quyền đối với đời sống Nhân dân và sự hưng vong của quốc gia. Ông chủ trương kết hợp đức trị với pháp trị, đề cao sự công minh, trách nhiệm và tính nêu gương của đội ngũ quan lại. Những quan điểm đó thể hiện tư duy tiến bộ, góp phần làm phong phú tư tưởng chính trị Việt Nam thế kỷ XVIII.
Là một nhà bác học lớn, Lê Quý Đôn đã nghiên cứu trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Không chỉ kế thừa tri thức truyền thống, Ông còn chủ động tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học của thời đại, luôn coi trọng khảo sát thực tiễn, đối chiếu tư liệu và kiểm chứng thông tin trước khi đưa ra nhận định. Tinh thần học hỏi không ngừng, tư duy độc lập và phương pháp nghiên cứu khoa học của Ông đã góp phần đưa nền học thuật Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới.
Trong lĩnh vực giáo dục, Lê Quý Đôn chủ trương giáo dục phải hướng tới sự phát triển toàn diện con người, kết hợp giữa tri thức, đạo đức, nhân cách và năng lực thực hành. Ông đặc biệt phê phán lối học hư văn, giáo điều, xa rời thực tiễn; đồng thời đề cao thực học, thực hành và khả năng vận dụng tri thức vào cuộc sống. Những quan niệm như "đọc sách một thước không bằng làm được một tấc" hay "đọc được một chữ đem áp dụng một chữ" thể hiện rõ tư tưởng học đi đôi với hành, coi hiệu quả thực tiễn là thước đo giá trị của việc học. Ông cũng nhấn mạnh vai trò của tự học, học tập suốt đời và tinh thần cầu thị trong tiếp nhận tri thức.
Bản thân Lê Quý Đôn là tấm gương tiêu biểu về ý chí học tập bền bỉ, lao động khoa học nghiêm túc và khát vọng khám phá tri thức không ngừng nghỉ. Đặc biệt, Lê Quý Đôn rất coi trọng việc phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài bởi theo Ông, sự hưng thịnh của quốc gia gắn liền với việc trọng dụng người có đức, có tài và có khả năng cống hiến cho xã hội.
Với vai trò là một nhà văn hóa lớn, Lê Quý Đôn đã dành nhiều tâm huyết sưu tầm, khảo cứu và lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa của dân tộc. Thông qua các công trình của mình, Ông đã góp phần bảo tồn nhiều tư liệu quý về lịch sử, địa lý, phong tục, tập quán, văn học và đời sống xã hội Việt Nam. Đồng thời, trong các chuyến đi sứ, Ông đã góp phần tăng cường quan hệ bang giao, mở rộng giao lưu học thuật, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm tri thức và văn hóa dân tộc.
Ghi nhận, tôn vinh những công lao, đóng góp, cống hiến của Lê Quý Đôn cho nền văn hóa Việt Nam và thế giới, tại phiên họp Đại Hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) lần thứ 43 diễn ra vào ngày 31/10/2025 tại Samarkand, Cộng hòa Uzbekistan đã thông qua Nghị quyết vinh danh và cùng tham gia kỷ niệm 300 năm Ngày sinh danh nhân văn hoá Lê Quý Đôn.
Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726 - 2026) là dịp để toàn thể đảng viên, viên chức, người lao động và người học Trường Đại học Nha Trang tưởng nhớ và tri ân những cống hiến to lớn của ông đối với lịch sử dân tộc. Đồng thời, nguyện chung sức, đồng lòng, nỗ lực thi đua học tập, lao động sáng tạo, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, xây dựng và phát triển Trường Đại học Nha Trang trở thành đại học vùng, có uy tín trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, hàng đầu khu vực Đông Nam Á về lĩnh vực KHCN biển và thủy sản, góp phần tích cực vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng phồn vinh, hạnh phúc./.
Ngô Văn An - Phòng CTSV